Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Nhồi máu não có nguy hiểm kh��ng? Chữa trị thế nào?

Bác của tôi năm nay 68 tuổi. Gần đây, xulynuocmiennam bác tôi hay bị đau đầu, kể từ khi xuất hiện triệu chứng đau đầu 2 hôm thì tay trái của bác tôi bắt đầu bị tê và gần như rất khó để sử dụng. Khi đưa bác đi khám đường thì bác sỹ chẩn đoán bác bị nhồi máu não. Tôi muốn tìm hiểu thêm về căn bệnh này. Nhồi máu não thực sự là gì? Nó có nguy hiểm không và cách chữa trị thế nào?

Nhồi máu não là gì?

Nhồi máu não cũng na ná như nhồi máu cơ tim, vì chưng thiếu máu cục bộ xảy ra khi giảm dòng máu nuôi não huyễn hoặc ách tắc trong nhiều giây hoặc một đôi phút. Đây là một trong những căn nguyên gây tử vong quy hàng đầu ở người cao tuổi, đặc biệt là những bệnh nhân có danh thiếp bệnh mãn tính như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, xơ vữa động mạch…

Phương pháp chữa trị nhồi máu não

Những lưu ý khi điều động trị nhồi máu não

Điều trị nhồi máu não cần điều trị triệu chứng, điều động trị bệnh ở giai đoạn cấp và điều trị phòng ngừa tái phát. Trường hợp huyết mạch bị tắc nghẽn gây nhồi máu não. Trường hợp này, khi điều động trị nhồi máu não cần lưu ý:
  • Người bệnh cần được nhập viện và nghỉ ngơi hết sức đối tại giường ở thời đoạn cấp để giữ tưới máu não tốt.
  • may loc nuoc tot nhat
  • Bảo đảm thông suốt thông thoáng đường hô hấp để tránh những biến chứng phổi liên quan đến hít vào hoặc ứ đọng tiết phế truất quản: Ngừng cho ăn bằng đường miệng trong trường hợp rối loạn ý thức và rối loạn nuốt; Hút đờm rãi; thở ôxy qua ống thông suốt mũi nếu cần; đặt nội khí quản huyễn hoặc thở máy khi cần thiết; vỗ rung phổi; phong thái nửa nằm – nửa ngồi sau 2 – 3 ngày khi tình trạng huyết động học cho phép.
  • Bảo đảm áp huyết động mạch: Tăng áp huyết gặp trên dưới 85% trong nhồi máu não, đó là tăng huyết áp thứ phát hay gặp bởi chưng làm phản tương ứng thực đánh vật để giữ lưu lượng máu não, vì vậy khi hạ áp huyết sẽ gây nhồi máu não nặng lên, nhất là trong những trường hợp hẹp động mạch nặng; phải theo dõi huyết áp nhiều ngày, nếu có thể với monitoring trong trường học hợp tăng áp huyết không ổn định; hạ huyết áp phải hạ từ từ, vừa phải; không dùng những thuốc hạ áp huyết nhanh (adalate dưới lưỡi).
  • Bảo đảm tốt công năng của tim: Theo dõi qua monitoring tim trong thời kì chí ít 48 giờ; điều động trị thuốc chống loạn nhịp nếu có; điều trị triệu chứng của suy tim.
  • Bảo đảm thăng bằng nước, điện dẫn giải và dinh dưỡng: Truyền G5% + điện áp giải trong những ngày đầu (cần kiểm soát tốt đường máu và natri máu); ăn bằng đường miệng nếu tình trạng ý thức cho phép hoặc cho ăn bằng ống thông suốt bao tử khi bệnh nhân có rối loạn ý thức hay rối loạn nuốt.
  • Điều trị đề phòng các biến chứng tắc mạch: thuốc chống đông với liều dự phòng.
  • Chỉ điều động trị thuốc chống động kinh khi có chẩn đoán chắc chắn.
  • Điều trị chống phù não: không đặt ra bởi vì ngày đầu phù não vì chưng ngộ độc tế bào không tác dụng với mannitol, hơn nữa còn có nguy cơ gây phù não thứ phát.
- Chăm sóc người bệnh nhồi máu não: bệnh nhân cần được nằm đệm nước, thay đổi phong thái nằm 4giờ/lần, xoa bóp vùng tì đè, chăm nom mắt và miệng, đặt ống thông suốt bóng đái nếu cần. - Tập hồi phục chức năng: Tập vận động thụ động lúc đầu sau đó chủ động; Tập hồi phục chức năng ngôn ngữ sớm trong trường hợp nói khó. - Theo dõi: Theo dõi sát mạch, huyết áp, ý thức, tần mệnh thở, tình trạng tâm thần 4giờ/lần; theo dõi nhiệt độ và lượng nước đái 8 giờ/lần; phát hiện rối loạn nuốt để đặt ống thông suốt dạ dày; phát hiện và điều trị sớm viêm phổi và đường tiết niệu.

Điều trị thuốc chống đông ở thời đoạn nhồi máu não cấp

Thuốc chống đông không có tác dụng làm tan cục huyết ối nhưng làm hạn chế phát triển và phòng tái phát. Heparine (bơm điện) được chỉ định trong thời đoạn cấp với liều lượng vừa phải, trang mục đích đạt TCA 1,5 – 2 lần so với chứng tùy thuộc từng trường hợp với kiểm rà hằng ngày tình trạng cầm máu.Chỉ định: Nhồi máu não thứ phát sau bệnh tim gây tắc mạch (trừ trường học hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và u nhầy tiểu nhĩ trái); thiếu máu não cục may loc nuoc gia dinh bộ hình thành đang tiến triển nặng lên; bóc tách ĐM vùng cổ ngoài sọ. Chống chỉ định: Loét bao tử tá tràng hoặc danh thiếp bệnh chảy máu khác; nhồi máu não rộng; nhồi máu xuất huyết; rối loạn ý thức.

- Sau thời đoạn thuốc chống đông có thể dùng thuốc kháng vitamin K hoặc thuốc chống ngưng tập tiểu cầu. Trong trường học hợp nặng lên khi sử dụng thuốc chống đông cần chụp cắt lớp vi tính sọ não lần 2 để tìm biến chứng nhồi máu xuất huyết.

Điều trị dự phòng tái phát nhồi máu não

  • Điều trị tốt các yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não: kiểm rà tốt huyết áp; ngừng hút thuốc lá; kiểm soát tốt đường máu; chế độ ăn kiêng mỡ động vật và điều động trị tăng cholesterol máu; bóc lớp áo trong của ĐM cảnh khi hẹp trên 70%.
  • Điều trị thuốc chống ngưng tập tiều cầu: aspirin 100 – 300mg/ngày x 3 tháng trong trường học hợp nhồi máu não lần đầu huyễn hoặc thiếu máu não cục bộ thoảng qua; 6 tháng trong trường học hợp nhồi máu não tái phát (cần tuân thủ chống tiền định).
  • Điều trị thuốc kháng vitamin K trong trường học hợp nhồi máu não có nguồn gốc từ tim.

Nhồi máu não có nguy hiểm kh��ng? Chữa trị thế nào? Rating: 4.5 Diposkan Oleh: Unknown

0 nhận xét:

Đăng nhận xét